Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014
Bùi ngùi ngựa xe Bảy Núi
Mui trần là một đặc trưng của xe ngựa Bảy Núi. Đỏ mắt tìm xe ngựa trên “đất ngựa” Mùng 3 tết, chúng tôi rủ nhau vào Bảy Núi (gồm hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên của tỉnh An Giang), được mệnh danh là đất ngựa với làng xe ngựa trên trăm tuổi của đồng bào Khmer để... Khai bút đầu năm. Đúng hẹn, Nam - đồng nghiệp địa phương lãnh bổn phận tổ chức chuyến đi - đưa tin sét đánh: “Không tìm được xe ngựa chở khách”. Một kế hoạch mới mau chóng được vạch ra: Sang Vĩnh Trung (Tịnh Biên), nơi có bến xe ngựa quy mô vài chục chiếc để chữa cháy. Tinh sương sáng, quán càphê nhà ông Chín Quang ở ấp Vĩnh Lập (xã Vĩnh Trung) rộn rịp Nesk-bo (tài xế xe ngựa). Chau Tuốt, Chau Thai, Chau Vanh Nath, Chau Khone... Tổng cộng có hơn 20 bác tài vừa uống càphê vừa trò chuyện rôm rả trong lúc chờ... Người đến thuê. Thế nhưng khi nghe chúng tôi thuê chở khách du lịch thì không khí náo nhiệt bỗng trầm xuống lạ thường. Sau một hồi bàn tán, Chau Na - “thủ lĩnh” của bến xe ngựa Vĩnh Trung - đứng ra giải thích: “Anh em rất muốn..., Nhưng vì do bấy lâu xe ngựa chỉ vận tải hàng hóa nên...”. Hồ hết xe ngựa ở Bảy Núi được thiết kế để chở hàng hóa. Đến nước này thì đành phải tận dụng mối quan hệ cá nhân chủ nghĩa, “gõ cửa” nhà anh Chau Chanh - Phó Giám đốc Trung tâm VHTT huyện Tri Tôn - để cầu cứu. Sau khi nghe biểu lộ ý nghĩa chuyến đi, anh Chanh cử Chau Đông - cán bộ Trung tâm - dẫn đến nhà Tà Chhom nằm dưới chân đồi Tức Dụp (xã An Tức - Tri Tôn). Với thao tác thạo của người có trên 40 năm cầm cương ngựa, chỉ trong nhấp nháy Tà Chhom đã ráp xong cỗ xe ngựa điển hình của vùng Bảy Núi. Khác với xe ngựa Đà Lạt và Bình Dương có mui và chỗ dựa chắc chắn, xe ngựa vùng Bảy Núi - “đặc sản” của đồng bào Khmer - khá thô ráp: Mui trần, không tay vịn, chỗ ngồi là những thanh gỗ kê tạm lên hai bên vách thùng xe, người không quen dễ bị ngã... Thế nhưng khi Tà Chhom vung Rum-pét (roi), ngựa tung vó, cỗ xe lăn bánh, tôi như chìm trong cảm giác tuyệt. Tiếng vó gõ xuống mặt đường trải nhựa, hòa quyện cùng tiếng lục lạc trên dây Chà-rông quàng quanh cổ “tuấn mã”, tức khắc tạo ra chuỗi thanh âm trầm, bổng như mang mọi du khách đến với buổi hòa nhạc giữa căn phòng thiên nhiên của dãy Thất Sơn hùng vĩ. Xe qua đồi Tức Dụp, lòng tôi lại thêm một lần lắng đọng... Tiếng nhạc ngựa sau khi vỗ vào vách đá đã lan tỏa theo hệ thống lò ảng (khoảng trống dưới những phiến đá to và liên hoàn) quanh năm cuộn mình trong bức màn huyền tích, gợi lên những âm thanh thượng cổ của thời hoàng kim chưa xa... Không chỉ là dụng cụ giao thông “Không phải con ngựa nào cũng được dùng kéo xe” - Tà Chhom đã làm tôi bất thần với câu chuyện “bếp núc” trong nghề chọn ngựa của đồng bào Khmer rưa rứa như kiểu xem tướng trâu bò của người Kinh. Theo Tà Chhom, trước nhất phải lựa ngựa có Kơ-dao-puk (xoáy cương, tức xoáy từ phần dưới bắp chuối sau lên lưng) thật dài mới được dùng kéo xe. Kế đến là ngựa có Kơ-dao-kpa (xoáy trán) nằm giữa trán, nếu lệch sang một bên thì không dùng vì hay trở quẻ, hung hăng. Vì thế với người Khmer ở Thất Sơn, xe ngựa còn là văn hóa với nhiều tầng nấc thâm sâu. Do thiếu quan tâm, tương trợ của ngành chức năng nên nguy cơ mất an toàn giao thông luôn rình rập các cỗ xe ngựa. Theo anh Chanh, do đồng bào Khmer sống tụ hợp trên các giồng cát sâu trong những cánh rừng. Thành thử việc sáng tạo ra chiếc xe mui trần có thể cơ động trên mọi địa hình rừng cây, núi đá và cát trắng. Dần về sau, những thùng xe được tận dụng để chở người trong nhà đi chợ, đi lễ chùa vào những dịp Dol-ta (lễ đưa nước), Tết Chthnam-thmay (mừng năm mới), hay lễ dâng y đặc thù của Phật giáo Khmer, nhưng vẫn giữ nguyên nét nguyên thủy: Không che thêm mui. Cũng theo anh Chanh, xưa kia, xe ngựa còn là “sân khấu lãng mạn của tình yêu”. Trong các lễ cưới, hoặc lễ thăm hỏi giữa hai thông gia trong dịp lễ Dol-ta (Ték-à-ponh), các nam thanh nữ tú thường ngồi trên xe ngựa hát Chùm-riêng Chhhon-chhlơi (na ná như hò huê tình của người Việt). Và đã có nhiều cặp đôi nên vợ nên chồng từ sàn diễn lãng mạn này “Anh có cưới vợ trên sàn diễn này”? Anh Chanh xẻn lẻn: “Không, tôi chỉ là “sản phẩm”...”. Té ra cách đây hơn nửa thế kỷ, cha, mẹ anh đã kết tóc, se duyên sau lần hò hát như thế. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc, sau thời kì ngắn xuất hiện, xe ngựa Bảy Núi từng bước được nâng cấp thẩm mỹ với việc đưa những đường nét chạm, khắc tinh tế vào vị trí đắc địa của xe. Và dù có thay đổi thế, dù đường sá ngày một thống thoáng hơn, nhưng trăm năm qua cỗ xe ngựa vẫn giữ nguyên hình ảnh chiếc mui trần và độc mã (một con ngựa) “đó không phải là sự bảo thủ, cổ hủ mà là sự nối tiếp lịch sử. Chính nhờ thế mà ngày nay và ngày mai dễ dàng nghiên cứu, tiếp cận khi cần tìm hiểu về loại hình liên lạc độc đáo này” - anh Chanh nhấn mạnh: “Đó thực thụ là “di chỉ” văn hóa”. Không, đó còn là mảnh ghép “văn hóa phum, sóc” độc đáo của đồng bào Khmer Thất Sơn, góp phần làm vườn hoa văn hóa Việt thêm đậm hương, rực sắc. Bên bờ vực mất trắng Dù được xem là nơi tập kết của “văn hóa phum sóc”, nhưng trên thực tế xe ngựa Bảy Núi đang đứng bên bờ vực mất trắng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Giờ đây không chỉ có con trai, con gái, mà ngay cả người già cũng ít còn muốn đi chợ, viếng chùa bằng xe ngựa. Thậm chí khi chuyển sang chở hàng hóa, cũng khó cạnh tranh được với xe cơ giới nên đã có lúc mất hút. Tuy nhiên sau những trùng triềng, nghiêng ngửa, những cỗ À-tís (xe ngựa) lại nhúc nhích hồi sinh sau lệnh cấm công cụ gắn máy thô sơ lưu hành có hiệu lực. Theo anh Chau Na, không lâu nữa con ngựa trắng này sẽ được các đại gia mua với giá đắt để nấu cao. Tuy nhiên, đằng sau sự hồi sinh ấy đang ẩn chứa nhiều nguy cơ suy vong. Theo thống kê của giới xe ngựa, hiện vùng Bảy Núi còn chưa đầy 50 cỗ xe, tập hợp tại các xã: An Tức, Ô Lâm (Tri Tôn), Vĩnh Trung, Văn Giáo, An Cư, Tân Lợi (Tịnh Biên), và con số này đang nối sụt giảm. “Nhiều lúc mấy ngày liền đánh xe ra bến mà không có việc, lại tốn tiền cơm nước nên tôi chỉ ngồi nhà, chờ người quen điện thoại...” - Chau Xinh, người có 3 đời hành nghề xe ngựa ở ấp Vĩnh Tây (xã Vĩnh Trung) chán chường. Đó cũng là cảnh ngộ chung của làng xe ngựa Bảy Núi. Chính vì vậy mà có không ít người đã “giã từ” với nghiệp À-tís. “Sống với nghề xe ngựa từ năm 21 tuổi, nhưng đến năm 40 tuổi thì tôi phải chuyển nghề vì thu nhập quá bấp bênh” - Chau Viên, xã Vĩnh Trung san sẻ. Có nhiều nguyên do dẫn đến suy thoái này, như: Sự nâng cao của nhu cầu từng lớp, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật,... Nhưng căn bản là do làng nghề phát triển quá trơ khấc, tự phát... Nói cách khác là thiếu định hướng đa dạng hóa để nâng cao hiệu quả kinh tế. Thực tiễn cho thấy, hồ hết xe ngựa Bảy Núi chỉ được người dân đầu tư theo hướng chở hàng hóa, trong khi đó nhu cầu đầu tư thành cỗ xe đưa du khách thưởng ngoạn danh thắng trong vùng thì gần như chưa được các nhà quản lý quan tâm, gợi mở, khuyến khích... Người dân đầu tư. Thậm chí có địa phương vì lo ngại đến an toàn liên lạc trên địa bàn còn tìm cách vận động các chủ xe ngựa chuyển đổi nghề. Đáng lo hơn là nhiều nơi, người ta còn tự tiện “pha chế” thêm phần mui xa lạ lên các cỗ xe ngựa Bảy Núi... Điều này không chỉ khiến cho hoạt động xe rơi vào ế ẩm, hay tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn khi tham gia giao thông, mà còn dồn đẩy làng nghề trăm tuổi này vào chân tường của sự suy tàn bản sắc và giống nòi trong ngày mai không xa. Do hiệu quả hoạt động không cao nên nhiều chủ ngựa sẵn sàng bán ngựa đẹp khi được các đại gia hay các chủ cơ sở du lịch ra giá cao, rồi mua lại ngựa xấu với giá rẻ hơn thay vào với nghĩ suy đơn giản: Ngựa vẫn còn đó mà túi thì có thêm tiền từ phần chênh lệch. Hiện phong trào này thịnh hành đến mức “toàn vùng Bảy Núi không còn ngựa đẹp, nếu có thì cũng trong thời kì ngắn lại ra đi” - anh Chau Na, một người chuyên cung cấp ngựa ở xã Vĩnh Trung nhấn. Làng xe ngựa trăm tuổi Bảy Núi đang đứng bên bờ vực mất trắng. Còn bao nhiêu đặc sản văn hóa sẽ tiếp tục gục ngã trước khi kịp phát huy hiệu quả như xe ngựa Bảy Núi nếu ngành chức năng cứ loay hoay trong điệp khúc: Đợi đến lúc mất hẳn rồi mới ồn ã tổ chức hội thảo bảo tồn như thời kì qua. Xin đừng đợi “mất bò mới lo làm chuồng”!
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét