Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Chuyện chưa biết về lí luận tu tập kì dị của giáo chủ Đạo Dừa

Bản thân ông Đạo Dừa cũng tự đặt cho mình những điều kiện khôn xiết khổ hạnh như: Ngồi kiết già thiền định trên đài cao chót vót từ ngày này sang ngày khác, ngủ ngồi, ăn chay một bữa Ngọ, không tắm, tuyệt đối tịnh khẩu (không nói), mắc bệnh không uống thuốc. Trở lại “Đại giang san cồn Phụng” Người sáng lập ra Đạo Dừa (tín ngưỡng chứ không phải một tôn giáo), có thể gọi là ông Hai, ông Đạo Dừa hay tu sĩ Nguyễn Thành Nam… hiện tại, người dân Bến Tre thường gọi là ông Hai Đạo Dừa, gắn tên ông và “sản phẩm tinh thần” do ông sáng tạo ra. Tại cồn Phụng (xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), chúng tôi đã rất kì công khám phá hết những chứng tích còn sót mà ông Hai Đạo Dừa để lại (nay là di tích cấp tỉnh, được phục vụ du lịch). Về cơ bản, các công trình được xây non nửa thế kỷ nhưng vẫn còn nguyên trạng, chỉ có thuyền bát nhã, cặp ngà voi lớn nhất Việt Nam của ông Nam Đạo Dừa đã được chính quyền đưa đi nơi khác bảo vệ cẩn thận. Những người từng là giáo đồ của ông Đạo Dừa kể, sinh thời lúc đến tu thiền nơi đây, ông Hai đặt tên là “Đại giang sơn cồn Phụng”, trên đó có nhiều công trình kiến trúc mang đậm tính cá thể và học thuyết tôn giáo linh tính của ông. Trong khu di tích, chúng tôi chú ý đến một nhân vật cùng thời có tên là Huỳnh Văn Đại (1900-1972, quê Quảng Trị), là một môn đồ của Đạo Dừa. Hình ảnh và tiểu sử của ông được khắc lên “Cửu Đỉnh” (một công trình trong cồn Phụng) và gói gọn một câu “Nhà kiến trúc kiêm cẩn khắc gia lỗi lạc” (ông Đạo Dừa phong cho). Ông Đại chính là người sát cánh và hiện thực hóa ý tưởng kiến trúc của ông Hai Đạo Dừa ở cồn Phụng với các công trình như: Chùa Nam Quốc Phật, ngôi Cửu Đỉnh, Thuyền Bát Nhã, Lầu chuông, Đài cầu nguyện, Quả địa cầu…Có thể nói, trong quan niệm của ông Hai, cồn Phụng thực sự là sơn hà thu nhỏ theo đúng ý của bản thân ông. Để tỏ những “thâm ý” của ông Hai, chúng tôi phải thuê một hướng dẫn viên để thuyết trình. Theo người này, mỗi công trình, “vị giáo chủ” Đạo Dừa đều “cài” trong đó những hàm ý theo lối chơi chữ rất…to. Tỉ dụ, tên chùa Nam Quốc Phật, ông cũng đặt tên theo tên của mình, Nam là tục danh, quốc Phật (đạo Phật mang tầm nhà nước). Đường đi trong chùa dù chỉ ngót mấy mét cũng được đặt tên như đường Trạng Trình, đường Minh Mạng, đường Nguyễn Huệ…, bến thì chỉ lọt một con đò nhỏ cũng có tên bến Bạch Đằng hay bến Diên Hồng. Ở sân cầu nguyện (cho các tín đồ nguyện cầu) có 9 trụ lớn có đắp rồng vàng uốn lượn biểu trưng cho 9 dòng sông lớn ở ĐBSCL. Và tuốt tuột những cái to tát ấy hợp thành tên gọi “Đại giang sơn cồn Phụng” (mặc dù cồn Phụng chỉ có tổng diện tích khoảng 50ha). Theo một người từng là giáo đồ (xin được dấu tên) thì ông Đạo Dừa kiến thiết “đại đất nước” ở cồn Phụng với chủ tâm là “đoàn kết, hòa hợp dân tộc, hòa đồng đạo”. Ông tự phong cho mình là người trung gian, đứng ra “thâu tóm hòa bình” cho Việt Nam và cả thế giới. Điều này biểu thị rất rõ, vào những năm sau này, khi ông Hai chính thức ra tranh cử Tổng thống (năm 1971), hay gửi kiến nghị hòa bình cho hai miền Việt Nam và cả thế giới, rồi ý tưởng đi tổ chức Hội nghị “Mỏ Neo” (theo ông Đạo Dừa thì tương đương với Hội nghị Genève) trên sông gần cồn Phụng. Sáng tạo ra những kiểu tu kì lạ Trở lại quá khứ, theo lời kể của ông Nguyễn Thành Hải (77 tuổi, xã Tân Thạnh, huyện Châu Thành, em cùng cha khác mẹ với ông Hai Đạo Dừa) thì vào khoảng năm 1943, sau khi ý tưởng sinh sản xà phòng từ dầu dừa bị phá sản, “bác vật” (kỹ sư hóa học) Nguyễn Thành Nam bắt đầu thay tính, đổi nết và nghĩ suy, nói nhiều về những gì cao siêu trong thế giới ngày nay. Ông ăn chay trường, xa lánh mọi người, cất am ngồi tu thiền, chỉ ăn mỗi ngày càng bữa. Ông Hai tụng kinh, niệm Phật và nói nhiều đến “thiên cơ”. Trước khi nói đến “thiên cơ”, ông Hai thường nhìn lên trời một hồi lâu rồi miệng thốt lên: “Long Hoa đại hội khai diễn ở Việt Nam, bá đạo sẽ ra đời để lọc lừa những người không chánh tâm. Tiên, Thánh, Phật… giáng hạ lập đời Thượng Ngươn Thánh Đức, chọn kẻ tu hành”. Ông Hai nói liền ngày này sang ngày kia, cả cha mẹ, vợ con, anh em trong gia đình ai nấy đều lo sợ tưởng bị tâm thần nên phải tìm thầy thuốc chữa trị. Người thân đành đưa ông Hai lên Chợ Lớn (Sài Gòn) ở tạm để chữa bệnh, nhưng về đêm ông không ngủ mà cứ ngồi cạnh ngọn đèn dầu vặn bức để đèn cháy to nhỏ. Mọi người hỏi thì ông Hai bảo đang thâu tóm âm dương của vũ trụ. Ngày 3/9/1945 (Ất Dậu), ông Hai quyết định tìm lên vùng Bảy Núi (vì đây được xem là xứ tu của các đạo sỹ). Tại núi Tượng (một ngọn núi trong hệ thống Thất Sơn ngày nay) ông tìm đến chùa An Sơn, bái Hòa thượng Nguyễn Hồng Tôi làm sư phụ, chọn cho mình lối tu khổ hạnh nhất, đó là tu đầu đà. Hàng ngày, ông ngồi bên mái hiên thiền định, sau đó cầm bát đi khất thực, và chỉ đúng giờ Ngọ mới ngồi độ (ăn), xong lại tiếp tục ngồi thiền, đêm đến ngủ ngồi, tịnh khẩu. Năm 1948, ông Hai xuống núi về sông Cửu Long Giang, tại đây ông ngồi thiền thêm 2 năm ròng nữa. Theo ông Hải, chính vì sự “hành xác” ấy mà chỉ trong vòng 5 năm, ông Hai từ một người đàn ông cao 1m65, nặng 60 kg, điển trai, khi xuống núi hành đạo chỉ còn cao 1m2, nặng 28kg, lưng gù cổ rụt lại, da dẻ nhăn nheo bọc lấy xương, chỉ có một điểm đáng để ý là khí sắc khuôn mặt lúc nào cũng khoác trông rất hóm hỉnh. Ông Hải còn nhớ, lúc ông Hai tìm về quê thì bất ngờ gặp mẹ, người mẹ hỏi: “Tu sĩ tìm ai?”, lúc này ông Hai đã tịnh khẩu, đành lấy giấy ra viết đáp: “Con là Nguyễn Thành Nam”. Bà mẹ mãi mới nhận ra rồi ôm chầm lấy khóc. Ông kỹ sư hóa học ngày nào giờ là một tu sĩ đích thực. Tại làng, ông nối tu hành, và bắt đầu nảy ý tưởng tu trên đài cao. Năm 1952, ông nhờ người dựng một đài bát quái bằng cây dừa cao 14 m, bên trên có nơi ngồi vừa thân mình, đêm đêm lên ngồi cầu nguyện, lúc nào đói thì uống nước dừa. Ông bác vật ngày nào giờ làm cái việc kì lạ, nhiều người hiếu kì lui tới xem. Chứng kiến lối tu khổ hạnh mà chỉ uống nước dừa để sống, dân gian dần gán ông Hai với cái danh là ông Đạo Dừa (Nam Bộ lúc bấy giờ có hiện tượng người ta tu thế nào thì gọi như vậy: Đạo Nằm (tu nằm), Đạo Ớt (ăn ớt tu), Đạo Ngựa (đi ngựa tu) – PV). Ngoài việc tu thiền, ông Hai còn vận động anh em họ hàng tu theo mình. Những người già ở làng Phước Thạnh ngày nay kể lại rằng, đệ tử của ông có lúc lên tới hàng nghìn người, có mặt khắp Nam Bộ. Họ ăn chay trường, mang áo nâu bã trầu, đầu quấn khăn, không cắt tóc, uống nước dừa và cầu nguyện. Để làm gương cho mọi người, ông Hai tuyệt đối thực hiện những điều luật khắt khe nhất do mình đưa ra để tự “hành xác” mình. Theo ông Hải, từ ngày về quê tu, ông Hai không bao giờ ngủ nằm, mà chỉ ngủ ngồi trên đài cao để hít thở không khí trong sạch. Trên mình chỉ mang một mảnh áo đủ che những phần kín, tóc không cắt mà búi thành cục, quấn quanh người, mỗi năm chỉ tắm một lần vào ngày Phật đản. Đặc biệt bệnh khi bệnh tật, ông không bao giờ uống thuốc mà chỉ dằm ớt cay uống chung với nước dừa để giã bệnh. Đây là những điều hoàn toàn có thật, chúng tôi xác nhận qua những người già ở Cồn Phụng và ở xã Phước Thạnh quê gốc nhà ông. Người ta còn cam đoan rằng, những điều chúng tôi nêu chỉ là một phần nhỏ trong số những khổ hạnh mà ông Hai Đạo Dừa có thể trải qua. Kê “thành tích” tranh cử Tổng thống Trong một tài liệu còn lưu giữ tại khu lưu niệm đạo Dừa ở cồn Phụng, thời khắc trước thềm cuộc bầu cử Tổng nguyên soái độ Sài Gòn nhiệm kỳ (1971- 1975), ông Hai Đạo Dừa có ghi bản “thành tích tu hành” để ra tranh cử “Đại Tổng thống” (lời của ông Đạo Dừa- PV) như sau: “3 năm ngồi tại núi Tượng (An Giang); gần 3 năm ngồi tại mé sông Cửu Long; 23 năm không ăn các thứ bột, không ăn cơm và các thứ bánh; 25 năm chỉ độ nhựt trái cây ngày càng bữa ngọ; 21 năm không ăn muối, đường; 24 năm không tắm; 14 năm tịnh khẩu; 24 năm bịnh, không uống thuốc hay chích thuốc; 25 năm ngồi kiết già chứ không nằm; 26 năm chỉ có manh quần tấm áo che thân và tự tay làm lấy thức uống...”. Hàn Phong – An Nhàn Kỳ tới: Ông đạo dừa bị Tổng thống Diệm bỏ tù vì dám “tiên tri tang tóc”

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét