Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

Những lý do chưa có tác phẩm văn chương đỉnh cao

Mặc dù được thừa hưởng nhiều quang vinh, song trong đời tư, văn hào Pháp Victor Hugo cũng gặp nhiều thảm kịch. LTS: Trong 2 ngày 27 và 28/11/2013, tại Hội trường T78, Tp HCM, Hội đồng Lý luận, phê bình văn chương nghệ thuật Trung ương đã tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc "văn học nghệ thuật trong 15 năm thực hiện quyết nghị Trung ương 5 khóa VIII: Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn chương, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao - Thực trạng và giải pháp". Tại hội thảo này, cùng với nhiều nhà văn, nhiều nghệ sĩ tăm tiếng, nhà văn Sương Nguyệt Minh - Phó chủ toạ Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam đã có bài phát biểu và bản tham luận của anh đã gây ấn tượng với nhiều đại biểu bởi cách đặt vấn đề cương trực, nhiệt huyết và bổn phận. Đương nhiên, với một nội dung có diện bao quát lớn, đề cập tới một vấn đề không kém phần phức tạp, các ý kiến của một nhà văn dù thông tuệ đến đâu cũng chỉ mang tính chất tham khảo. Rất mong sau bài viết này, chúng tôi tiếp nhận được sự quan hoài luận bàn của quý độc giả và các đồng nghiệp... Cần lao nhà văn và kết quả cần lao nhà văn dị biệt hoàn toàn với những lao động ngành nghề khác. Đó là thứ cần lao cô độc nhọc nhằn khiến không biết bao nhiêu người bỏ cuộc, nửa đường đứt gánh; những người thư hùng với nghề thì cuối đời cũng không mấy ai gặt hái được vinh quang. Văn chương nước nhà không có tác phẩm đỉnh cao nhân loại. Vì đâu nên nỗi? 1. Chưa xuất hiện tài năng văn học Cái điều trước nhất xưa như địa cầu, hầu như ai cũng biết là có thiên tài văn chương thì mới có tác phẩm lớn, còn tác phẩm vĩ đại thuộc hàng đỉnh cao nhân loại thì phải cần đến tài năng văn học. Ở tuổi 24, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã viết nên thiên tiểu thuyết "Số đỏ" mà bản dịch tiếng Anh được nhật trình Los Angeles Times bình chọn là 1 trong 50 tác phẩm hay nhất nước Mỹ. Trong ảnh: Cảnh trong phim "Số đỏ" chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Vũ Trọng Phụng. Nhà văn hóa Phạm Văn Đồng từng nói: "Nếu không có nhân tài gì đặc biệt thì anh nên đi làm việc khác, chứ làm văn nghệ khổ lắm". Một học sinh thường ngày tốt nghiệp lớp 12, sau mấy niên học Đại học Y khoa, tốt nghiệp ra trường là hành nghề thầy thuốc được ngay. Một người thường ngày không có năng khiếu văn chương, học bằng ấy thời gian, chắc chắn chẳng thể thành văn sĩ. Ông Lê Lựu nói rằng: Thời học sinh phổ thông, ông không giỏi văn. Vâng! Nếu giỏi văn thì ông đã đi làm nhà lý luận - phê bình. Văn học nhà trường không đào tạo được nhà văn mà chỉ trang bị tri thức cấp thiết cho nhà văn mai sau. Cái năng khiếu văn chương nó biểu hiện ở cái tài quan sát và cảm nhận sự vật hiện tượng đời sống, sau đó là chọn cái gì, rồi tả thông điệp người viết bằng ngôn ngữ ra sao. Cũng là một câu chuyện, người thì kể vô duyên lạnh lùng, hoặc kể ngắc ngứ, rời rạc, lộn xộn...; Người thì kể có duyên, tinh tế gợi cảm; người lại kể khúc chiết cảm động, da diết... Đều do cái tạng thiên tài hay không tài năng mà ra. Nền văn chương Việt Nam hiện đại có thiên tài văn chương không? Nguyễn Trãi viết: "nhân tài như sao buổi sớm. Tuấn kiệt như lá mùa thu". Ban đêm thì mới nhiều sao, mùa xuân thì lá mới lắm. Bình minh, trăng sao bị ánh sáng dữ che khuất, chỉ còn những tinh tú quá sáng mắt thường mới nhìn thấy. Mùa thu, lá vàng rụng tơi bời, có loại cây trút hết lá chỉ còn cành xương xóc, lá xanh trụ lại trên cành rất ít. Anh tài thì thời nào cũng có, song hiếm hoi. Hiếm nên mới quý! Vũ Trọng Phụng in truyện ngắn "Chống nạng xuất phát" trên Ngọ báo năm 18 tuổi. Ông sống 27 năm trên nhân gian, chỉ 10 năm sáng tác đã làm xong sự nghiệp văn học lớn, mà đến nay biết bao lăm nhà văn phải mong ước thèm muốn mà không được. Trần đại đăng khoa được gọi là thần đồng thơ thời hiện đại. Chỉ 8 tuổi, ông đã in thơ trên báo, 10 tuổi in tập thơ đầu tay "Từ góc sân nhà em". Không có nhân kiệt, kiên cố Vũ Trọng Phụng không viết được tiểu thuyết "Số đỏ" năm 24 tuổi, bản dịch tiếng Anh được nhật trình Los Angeles Times bình chọn là 1 trong 50 tác phẩm hay nhất nước Mỹ. Vũ Trọng Phụng là một tài năng văn chương. Không có thiên tài, chắc chắn lúc 10 tuổi, cậu bé Trần đại đăng khoa chẳng thể viết được câu thơ: "Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng" tinh tế sâu đằm, thần kì. Trần đại đăng khoa là một anh tài văn chương. Còn tỉ dụ như tôi - Sương Nguyệt Minh chỉ là khiếu văn chương. Cho dù "tài năng như sao buổi sớm. Tuấn kiệt như lá mùa thu" thì nền văn chương hiện đại Việt Nam vẫn có nhân tài văn học, nhưng nhân kiệt văn học thì có lẽ còn phải chờ đợi. Nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trên thế giới thiếu vắng tài năng văn học chứ không chỉ Việt Nam ta. 2. Thiếu vắng nhà văn có tư tưởng lớn Tác phẩm đỉnh cao dứt khoát chứa tư tưởng lớn và cha đẻ của nó phải là nhà văn có tư tưởng lớn. Nhà văn không có tư tưởng, viết bản năng, ăn may, được chăng hay chớ... Không bao giờ làm nên tác phẩm mang tư tưởng thời đại. Mà không có tác phẩm mang tư tưởng thời đại thì lấy đâu ra tác phẩm đỉnh cao nhân loại? Tư tưởng lớn nhà văn chẳng thể sinh ra đã có ngay, mà là quá trình "tập đại thành". Đó là hành trình nhọc nhằn tích lũy tri thức văn hóa, triết học, lịch sử, ngoại ngữ vv… Và có được những yếu tố ấy rồi thì nhà văn phải nghĩ ngợi về số mệnh nhân loại, thân phận con người, về tiến bộ xã hội...; Nhà văn phải mang nỗi đau bồ hướng đến tư tưởng đồng đẳng, tự do, nhân ái, hướng đến giá trị chân - thiện - mỹ... Thì mới ra tư tưởng lớn. Nguyễn Du trước khi viết "Truyện Kiều", ông đã là nhà nho đọc được Tứ thư, Ngũ kinh, đọc Đạo đức kinh; tư tưởng của các nhà triết học Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử không xa lạ gì với Nguyễn Du. Các nhà văn lớn thế giới không thể thiếu sách triết học, mỹ học của Aristoteles, của Hegel, Nietzsche... Rất tiếc, một thời gian dài các nhà văn Việt Nam không tiếp cận được kho tàng triết học, mỹ học nhân loại, chỉ biết đến Triết học, mỹ học Marx - Lenin được trang bị một cách sơ giản, nhưng học và đọc cũng không đến đầu đến đũa. Hiểu biết về các tôn giáo lớn, thần học, dân tộc học... Cũng rất hạn chế. Nhà văn có tư tưởng lớn còn phải người đi nhiều mới biết lắm. L.Tolstoy, Dostoevsky, Pushkin từ nước Nga trực tính đi Paris và các nước châu Âu khác. Victor Hugo đi khắp châu Âu, bị đi đày ở Bỉ, sau đó là đảo Jersey và Guernesey. Hemingway đi khắp châu Mỹ, có mặt ở mặt trận Italia trong thế chiến thứ nhất, làm phóng viên trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha... Phỏng, các nhà văn Việt Nam có ai từng trải, vật vạ, bước ra khỏi biên giới đến những chân trời mới lạ, đi lắm biết nhiều... Như thế? Nếu có, thì họ đi với nhân cách là một viên chức đi công cán, một khách du lịch cưỡi ngựa xem hoa, chứ mấy người đi với tư cách nhà văn... Sống để viết? 3. Chưa mê say quyết liệt, không dấn thân cùng tận Nhà văn cần dấn thân vào đời sống, có ham mê, có ý chí quyết liệt "thư hùng" với tác phẩm mình định viết. Cái điều này rất ít nhà văn Việt Nam làm được. Quan niệm văn học là "nghiệp" vẫn phổ thông trong tư duy của số đông nhà văn nên lúc thích thì viết, lúc bận việc khác thì gác bút, có người gác mãi không viết nữa, hoặc vài ba năm, chục năm sau mới viết. Văn chương phải được coi là nghề mới lao động chuyên nghiệp, mới dấn thân vào đời sống. Bá tước, nhà văn L.Tolstoy thường mua vé xe lửa hạng bét để được gặp gỡ, chuyện trò với người lao động cùng đinh trong xã hội. Sinh tiền, thi hào Nga Pushkin đã đặt chân tới nhiều vùng đất. Trí nhớ tượng nhà văn dù phong phú, bay bổng đến bao nhiêu cũng không bao giờ đa dạng thiên hình vạn trạng như cuộc sống sinh động. Hầu hết nhà văn công chức quốc gia, thời kì dành cho văn học rất ít. Vài trại viết, mấy đợt đi thực tại về nông thôn, về công xưởng, nhà máy... Nhà văn không tiếp nhận được gì nhiều, ngoài cái việc được nhất là lấy lại xúc cảm sáng tác. Xa cách đời sống, không gắn bó với nhân vật văn chương tương lai của mình - đấy là điều phổ thông đối với nhà văn giờ. Tình trạng nhà văn viết về nhân vật mà không hiểu lời ăn tiếng nói - tiếng nói, tâm trạng, phong cách sống, cá tính nhân vật, chính là bi kịch có nhân kiệt nhưng ở tháp ngà, salông, đứng lân la ở bên ngoài đời sống. Nhà văn phải khẩn hoang chất liệu - quặng thô ở hiện thực cuộc sống mới "có bột" để "gột nên hồ", để tinh chế thành vàng ròng chứ không thể rập đúc ra... Thau. Nhà văn không dấn thân sẽ không hiểu đời sống, hoặc hiểu không đến nơi đến chốn, tất sẽ viết sậm sựt, gượng gập... Thì lấy đâu ra tác phẩm hay, nói gì đến tác phẩm đỉnh cao. 4. Nhà văn Việt Nam đang bị tán tài Rất hiếm nhà văn Việt Nam hiện chỉ làm mỗi một việc là... Viết văn. Cùng một lúc, nhà văn vừa phải làm thuê việc của một nhân viên, vừa sáng tác. Hầu hết nhà văn Việt Nam hiện thời là nhà văn công chức, làm việc ăn lương ở một cơ quan Nhà nước và... Viết lạ tay trái. Cái công việc của nhân viên bắt nhà văn phải 8 giờ vàng ngọc ở cơ quan, ở nhà xuất bản, ở các hội văn nghệ, ở các báo, tùng san... Một bộ phận không ít nhà văn đang cùng lúc mang nhiều phận sự: đảng viên, cấp ủy, thủ trưởng, hay thủ phó cơ quan, cán bộ công đoàn, ban chấp hành hội đoàn kiêm nhiệm... Và nghĩa vụ nhà văn. Chuyện cơm áo mưu sinh kiếm tiền nuôi bản thân, nuôi vợ nuôi con, xây nhà cửa, ổn định cuộc sống cũng chiếm quá nhiều thời kì sáng tác. Nhà văn Việt Nam bây giờ, để ổn định cuộc sống kinh tế gia đình, không quá vướng bận các việc mưu sinh để chuyên vào sáng tác thì cũng mất toi 20 năm trong thế cuộc, có khi ổn định thì đã quá cái độ tuổi sáng tác sung sức nhất. Tán tài, không tụ họp tâm khảm sức lực cho văn chương và sống bằng văn học cũng là một trong những nguyên nhân không có tác phẩm lớn. 5. Nhà văn thiếu sự liên tài Giai thoại kể lại rằng: Lúc Sinh thời, đại văn hào Dostoevsky - tác giả của "Tội ác và trị", "Anh em nhà Karamazov" với đại văn hào L. Tolstoy, cha đẻ của "Chiến tranh và hòa bình", "Anna Karenina" chừng như hai ông nhạt nhẽo với nhau. Nhưng, sau khi L.Tolstoy mất, người ta thấy trên bàn viết của ông có quyển "Anh em nhà Karamadzov" đang đọc dở. Hai con hổ không sống chung một rừng. Ở hai vĩ nhân này, dù bằng mặt không bằng lòng, nhưng câu chuyện đọc tác phẩm của nhau chứng tỏ các ông quá lớn để phục tài nhau. Thời kì quá lớn dành cho việc mưu sinh cũng khiến nhiều nhà văn bị tán tài (ảnh chỉ mang thuộc tính minh họa). Các nhà văn Việt Nam hiện giờ có phục tài nhau không? Tôi chưa thấy một nhà văn nào dám nói công khai đại loại những câu như: "Cái tay X ấy nó viết hay hơn mình". Hoặc: "Ông Y viết hay quá. Còn lâu mình mới viết được như thế" v.V... Phần đông là "văn mình, vợ người". Một khi biết để người khổng lồ khác đứng trên vai mình thì mới đo được cái bóng của họ. Khả năng liên tài bao giờ cũng vượt qua tính đố kị, ghen ghét, nhỏ nhen và mới toàn tâm toàn trí dành cho tác phẩm. Còn nhăm nhăm nhằm đến nhà văn này, thi sĩ kia, nhà phê bình nọ để bới lông tìm vết, vạch lá tìm sâu để "đánh", để hạ bệ; còn vấn vương lòng ganh tị, còn mang nặng lòng tự phụ "văn mình, vợ người" thì nhà văn chưa đủ lớn để sáng tạo ra tác phẩm hay, chứ nói gì đến tác phẩm đỉnh cao. 6. Nhà văn thiếu những thảm kịch lớn Người ta có chiếu lệ thống kê, nhiều nhà văn nhân tài lại hay bị "trời đày", phải sống trong nghịch cảnh bi thảm. Đối với người bình thường, nỗi xấu số sẽ là bi kịch, nhưng đối với nhà văn thỉnh thoảng xấu số lại trở nên "tài sản". Dĩ nhiên, cái sự xấu số ấy phải là "trời giáng", chứ dù là nhà văn thì chẳng ai lại cố tình tạo ra bất hạnh của mình để viết hay hơn. Dostoevsky vĩ đại luôn bị cảnh nghèo đói thị uy, giày vò. Vợ ông mắc bệnh lao, sau khi bà chết, chứng động kinh của ông lại nặng thêm. Ông lấy người thư ký kém ông 26 tuổi, nhưng đời sống vẫn ngập trong nợ nần, phải trốn nợ chạy khỏi nước Nga và sống lưu vong ở châu Âu. Đứa con ông cũng chết yểu. Trở lại ngước Nga ở tuổi 50 nhưng cảnh đói nghèo, bệnh tật vẫn không buông tha ông. Lev Tolstoy nửa sau thế cục đã từ bỏ cuộc sống quý tộc thượng lưu để sống một đời giản dị của người dân cày. Chính cho nên ông mâu thuẫn với bà vợ kém ông tới 17 tuổi, rất háo danh, sống xa hoa, sung túc, hằng ngày luôn càn, xỉ vả ông. Chán chường, ông bỏ trang trại giàu có, rộng mông mênh ra đi để tìm nơi yên lành. Vào một ngày tuyết rơi tơi bời, ông già Tolstoy 82 tuổi đã chết ở một ga xe lửa hẻo lánh vì sưng phổi. Victor Hugo có số rất xấu số: Vợ bội nghịch, cặp bồ với người bạn ông là một nhà phê bình. Con gái và con rể chết trẻ đột ngột. Ông bị đi đày ở Bỉ, sau đó là đảo Jersey và Guernesey, sống lưu vong 25 năm xa đất nước. Xấu số tình ái cũng là thảm kịch của nhiều nhà văn lớn. Lỗ Tấn suốt đời không yêu vợ bởi bị gia đình bắt cưới một người con gái không đẹp, ông không có thiện cảm. Turgenev ba lần thất bại tơ duyên... Vũ Trọng Phụng chỉ sống 27 năm thế cuộc, sống và viết trong nợ và nghèo đói, chết vì bệnh lao phổi. Ông từng phải thốt lên với nhà văn Vũ Bằng: "Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này". Hàn Mặc Tử thì chết trẻ ở Nhà thương Quy Hòa vì bệnh hủi... Nhà văn Việt Nam hiện nay, dù không no ấm như một số đứa ở ngành nghề khác nhưng nhiều người cuộc sống ổn định. Phần lớn làm công chức quốc gia, lĩnh lương đủ sống. Không ít người làm quan chức, cuộc sống khá giả, có nhà lầu xe hơi, vợ đẹp, con khôn, đi nước ngoài công tác, du lịch... Như đi chợ. Đời sống tốt, gia đình hạnh phúc là điều rất mừng, nhà văn không phải loay hoay kiếm tiền mưu sinh, có nhiều thời kì để sáng tác hay; nhưng điều này chỉ đúng với người dốc sức cho văn học, chứ không đúng với người thời kì đi công cán nước ngoài, đi họp hành, đi nhậu nhẹt nhiều hơn sáng tác. Văn là đời. Xấu số trong cuộc thế tạo nên thảm kịch khiến nhà văn luôn đau đớn, dằn vặt, giày vò vì nó, khắc khoải vì nó. Chất liệu văn chương và điệu tâm hồn bắt đầu từ chính nghịch cảnh đó. Tác phẩm lớn được hình thành, một phần cũng từ những thảm kịch, nghịch cảnh ấy. 7. Nhà văn tự biên tập, triệt tiêu dần bản sắc của mình Ngoài chuyện biên tập cho văn phong nhuần nhị, chuẩn xác hơn, cấu tứ câu chuyện ấn tượng hơn, nghĩa là những việc thuần túy được coi là "chuyện nghề", đã có những bối cảnh, vì ích chung của cộng đồng, nhà văn phải chịu sự biên tập về nội dung tư tưởng để tác phẩm có thể đến tay độc giả và được bạn đọc chấp thuận. Tuy nhiên, không thể phủ nhận một thực tế là đã có thời, cái vòng cấm, cái khu vực nhạy cảm quá mơ hồ đến mức nhà văn bị bó chân, khoanh tay mà không biết mình bị ai bó, bị bó như thế nào. Thế rồi cái tình trạng tự biên tập thái quá, biên tập thiếu bản lĩnh của nhà văn chẳng biết trở nên căn bệnh nặng từ bao giờ, mà hầu như nhà văn nào cũng sợ sệt tự cắt bỏ phần "nhạy cảm" trong tác phẩm của mình. Thậm chí, có người run rẩy còn biên tập từ trong ý nghĩ, từ lúc còn làm đề cương. Nếu ai cũng viết trong tâm trạng như thế sẽ trở nên một dàn đồng ca, không có giọng riêng, không sắc thái riêng, không ý tưởng riêng, bởi vô tình nhà văn bị bao cấp cả trong... Ý tưởng. Thực trạng ấy phổ quát trong từng lớp và cá nhân nhà văn, được minh chứng bằng chính câu nói nổi danh của Tổng bí thơ Nguyễn Văn Linh: "đầu tiên nghệ sĩ phải tự cởi trói cho mình". Bản lĩnh nhà văn yếu đuối, văn tài nhà văn chừng độ nên không thắng lợi nổi cái anh biên tập cụ thể và vô hình, thế thì làm sao mà có tác phẩm hay, nói gì đến tác phẩm đỉnh cao. 8. Một nền phê bình yếu và thiếu cũng không kích thích sáng tạo văn chương bấy lâu, văn đàn rất ít được chứng kiến những cuộc "bút chiến" văn chương một cách khoa học, khách quan. Điểm sách là đốn và tràn lan trên các trang báo, đa số là khen chứ chê rất ít. Có nhiều nhà phê bình đã mệt mỏi sau các cuộc tranh cãi lúc đầu mang tính học thuật, sau đó quá mù ra mưa, dẫn đến móc máy, sát phạt làm tổn thương nhau, rồi chán, bỏ cuộc và quay sang làm nghiên cứu. Có nhà phê bình nói rằng, văn học phải có gì thì phê bình mới có cái để nói. Nhà thơ Trần Đăng Khoa viết trong "Chân dung và hội thoại": "Có thể có một tác phẩm phê bình hay về một cuốn sách dở và trái lại". Tôi chưa thấy nhà phê bình nào làm được cái việc như thi sĩ Trần Đăng Khoa nói. Một sinh hoạt văn chương thẳng tính với những cuộc tranh cãi, phê bình tác giả tác phẩm rất cần thiết đối với người sáng tác. Nhà phê bình đồng hành với nhà văn. Phê bình gây men tạo chất xúc tác cho giới sáng tác, phát hiện những viên ngọc còn trong bóng tối, đưa các tác phẩm hay còn đang khuất nẻo ra công luận... Là những việc rất cấp thiết đối với hoạt động sáng tác. Tiếc thay, trong tình hình hiện thời, lý luận - phê bình văn học chưa giúp được gì nhiều lắm cho nhà văn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét