Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014
Phó nháy nghiệp dư
Đối với tôi, môn nghệ thuật nhiếp ảnh, nôm na gọi là nghề nhiếp ảnh, từ thuở còn đang cắp sách ở trường làng cho tới nay, mãi mãi là một nghề trải qua. Cái nghề một thời đã từng kén chọn người chơi đến kiêu kỳ, thách đố… Đối với lũ trẻ em nhà nghèo chúng tôi ở thôn quê, hầu như không có đứa nào dám léo hánh tới, dù chỉ một lần được có mặt trong khuôn hình cũng là điều ước mong viển vông, không tưởng! Thuở ấy chúng tôi đi xem chụp ảnh Làng La Phẩm của tôi xưa thuộc tổng Thanh Lạng, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, một làng quê nghèo nằm bên bờ sông Hồng, cách phố Phủ 9 cây số, cách thị xã chừng hai chục cây. Cả phố Phủ chỉ có một hiệu ảnh. Ở thị xã có bao lăm, tôi mù tịt. Bởi tới năm 18 tuổi vào quân nhân mà tôi chưa một lần được về thị xã. Và, tôi dám chắc rằng, cả làng La Phẩm tôi trước cách mệnh Tháng 8 năm 1945, chưa có một công dân nào được đứng trong khuôn hình nhiếp ảnh. Bởi vậy, mỗi khi nghe tiếng xe “bình bịch” (xe máy) là biết ngay có thợ ảnh từ thị xã về làng (gọi là chụp ảnh dạo), lũ trẻ chúng tôi ơi ới gọi nhau đi xem. Đuổi theo đến vã mồ hôi mà chẳng lần nào được tận mắt xem người ta chụp ảnh. Mãi tới năm tôi lên mười tuổi, nhân đám cưới của chú Chí tôi với thím Hoành, hai nhà thuộc diện khấm khá trong làng, chú tôi lại đang theo học tú tài nhất (năm thứ nhất tú tài), nên ông đã mời thợ ảnh từ thị xã về. Do thám kỹ thuật cụm TB H67 tại Bến Tre năm 1973. Thú thực, đó là lần trước nhất trong đời tôi được xem một đám cưới qua, chú rể diện comlê, cô dâu mặc áo dài tân thời, người thợ ảnh cũng diện đồ tây trắng toát, mũ phớt cũng trắng toát. Tôi như bị hớp hồn trước chiếc máy ảnh đeo trước ngực người thợ. Hai ngày sau, nghe tiếng xe “bình bịch”, tôi tót sang nhà chú tôi, giữa lúc mọi người đang xúm đông quanh chiếc bàn ở góc sân. Tôi cố len vào, bỗng khẽ reo lên trong lòng - “Đẹp quá! Chú thím tôi đẹp quá!...”. Đó là những bức ảnh đầu tiên trong đời tôi được nhìn thấy. Điều không ngờ tới Năm 1961, tôi trúng tuyển bộ đội, vào lính pháo binh. Gần 4 năm gắn bó với núi rừng Tây Bắc. Chuyển ngành về Tỉnh ủy Sơn Tây rồi được cử đi học lớp nghiệp vụ do Văn phòng Trung ương mở để đi công tác Sứ quán ta ở nước ngoài. Lớp học có hơn 200 người. Sau đợt Mỹ ném bom miền Bắc và đưa quân vào trận mạc miền Nam, lớp lính cũ chúng tôi nhất loạt xung phong tái ngũ. Tôi là một trong số hơn 30 người được cục II (Tình báo quân đội) tuyển, huấn luyện để đưa vào mặt trận “B”. Tôi và Nguyễn Văn Giai (sau này được tuyên dương Anh hùng lực lượng Tình báo) được đưa về huấn luyện tại một ngôi nhà “mật” ở phố Hàng Bè. Các thầy dạy nghiệp vụ đều ở trong thành Hoàng Diệu. Cứ một thầy, hai trò cho tới hết khóa học. Buổi học trước hết, anh Long (cán bộ trực tiếp đảm đương chúng tôi) đưa tới gặp một thầy và vào đề: “Các đồng chí tụ họp ý thức học cấp tốc một số môn căn bản của ngành. Môn trước nhất có ý nghĩa thiết thực mà sau này các đồng chí thẳng tính dùng. Do vậy, thời kì sẽ ưu tiên nhiều hơn. Đó là môn Nhiếp ảnh…”. Trái tim tôi như muốn vượt khỏi lồng ngực. Thật là điều không ngờ tới. Ký ức tuổi thơ vụt trở lại. Không hiểu trời run rủi thế nào mà “cái nghề trải qua” ấy bỗng chốc lại đến với tôi. Cứ như là chuyện khoa học viễn tưởng! có nhẽ vì thế mà môn học này tôi thu nạp “hơi bị” nhanh. Chỉ sau 2 tuần lễ, từ một người mù tịt về nhiếp ảnh, chúng tôi có thể làm ra được một bức ảnh hẳn hoi với bao công đoạn. Từ cầm máy, mở máy, lắp phim, điều chỉnh cự ly, ánh sáng, bấm máy, tua phim, tháo phim… rồi phương pháp chụp chân dung, cảnh quan, chụp tài liệu… cho tới pha thuốc hiện hình, giữ hình, tráng phim trong buồng tối, tráng phim ban ngày trong túi đen, rồi sấy phim, in ảnh, phóng ảnh, sấy ảnh, đọc phim tài liệu qua kính lúp… Chừng ấy thứ, đối với một nhiếp ảnh gia thì chẳng có gì đáng nói. Song, đối với chúng tôi hồi đó thì quả là kỳ công, tuyệt hảo. Những bức ảnh thời chinh chiến H67 khai triển kế hoạch chống càn (1972). Ấy là tôi muốn nói tới những bức ảnh của đám nghiệp dư chúng tôi. Không dám mảy may so sánh với các nghệ sĩ, chiến sĩ cầm máy vượt qua lửa đạn để có những bức ảnh sống động trong các trận đánh của lính ta. Mười năm ở trận mạc Nam Bộ (1965-1975) tôi đã công tác, đấu tranh ở 3 cụm tình báo chiến lược (B48, B49, H67) với tên gọi là Khổng dữ. Phương án vào hoạt động hợp pháp tại Sài Gòn không thực hành được dẫu rằng tôi đã được tổ chức chuẩn bị rất chu đáo về mặt thủ tục: Với họ tên giả là Đỗ Văn Nga (đội lốt lính pháo binh thuộc Sư đoàn 7) với thẻ căn cước của chế độ Sài Gòn, giấy khám sức khỏe với lời phê của đốc tờ “cho phục viên vì bệnh yếu tim”. Về ngụ cư tại Lai Khê - Bến Cát - Bình Dương. Với nghề nghiệp Giáo sư bậc Trung học. Cho dù tuổi đời khai tăng tới 7 năm, nhưng nhìn tướng hình dáng bộ thì chẳng giấu được, lại đúng thời điểm địch tăng cường dồn quân, bắt lính, nên tôi được đưa về công tác tại bộ phận cứ. Được lãnh đạo giao trách nhiệm nghiên cứu tin từ các lưới điệp báo nội thành để chuyển về trọng điểm; xúc tiếp, cảm hóa để phát triển lực lượng bí mật nội thành; kết hợp với địa phương làm công tác tuyên truyền… tin tưởng.# Từ các lưới điệp viên báo nội ô thời đó gửi về căn cứ qua mấy hình thức: Viết tay được ngụy trang bằng bí số, tiếng lóng; viết tay bằng mực bí hiểm trên các lề sách, báo; bằng phim ảnh (phim đã tráng hoặc chưa tráng). Những tài liệu nguyên bản, nhiều trang, nội dung quan yếu điệp báo viên thu được trong các tổ chức của địch, cốt yếu dùng hình thức này. Một số chỉ đạo của Cụm cho các điệp báo viên cũng phải dùng tới phim ảnh. Cho nên, bộ phận cứ của các cụm tình báo phải có cán bộ biết nghề ảnh. Căn cứ bám trụ của các cụm tình báo, an ninh thời đó thường ở vùng giáp ranh với địch hoặc vùng trọng điểm đánh phá như Củ Chi, nam Bến Cát, Mật khu Bời Lời… do vậy, việc làm ảnh cực kỳ khó khăn, chủ yếu thực hiện dưới hầm sâu, đậy nắp kín, dự phòng ánh sáng bất ngờ từ bom, pháo của địch dội xuống sẽ làm hỏng phim. Để có đầy đủ một bộ đồ nghề dã chiến về ảnh, không phải chuyện dễ dàng. Phải phê chuẩn một cơ sở bí ẩn nội ô biết nghề này mua sắm, ngụy trang giao cho giao thông viên hợp pháp chuyển dần về cứ. Khi thì mấy cuộn phim, tập giấy ảnh; khi thì gói thuốc hiện ảnh, giữ hình được bọc kỹ, để lẫn trong cái túi thực phẩm, gia vị. Về ánh sáng khi in và phóng ảnh chúng tôi phải dùng đèn bấm. Việc sấy ảnh, phải dùng bếp than. Tuốt tuột đều thực hiện vào ban đêm. Kể cả thông báo liên lạc về Trung tâm. Bởi ban ngày lo đối phó với càn quét của địch. Làm ảnh thời đó khó khăn, phức tạp lắm, bởi luôn phải đối phó với cảnh huống bất trắc xảy ra. Có lần vừa pha thuốc tráng phim xong, bỗng có lệnh phải rời cứ gấp, ngừa địch càn vào. Tôi nhớ, một lần ở miền Đông Nam Bộ, tình huống xảy ra đến thót tim. Có 8 cuộn phim chưa tráng từ nội thành chuyển gấp về. Đó là tài liệu quan yếu do điệp báo viên thu được từ Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Biết tính chất tài liệu, nên đã tráng phim dưới hầm, tôi vẫn cẩn thận thao tác trong túi đen. Cuộn phim chung cục vừa thả vào hộp thuốc định hình thì một loạt pháo từ căn cứ Đồng Dù của địch dội tới làm tung cả miệng hầm của tổ chúng tôi. Dứt đợt pháo, anh em đơn vị lao tới, ánh đèn bấm loang loáng, từ dưới hầm, tôi thét lên - “Tắt đèn! Tắt đèn ngay! Chúng tớ vẫn đang sống nhăn, không việc gì đâu”. Rất may, khu vực bếp Hoàng Cầm an toàn, nhờ vậy mới có chỗ sấy phim. Chúng tôi mừng đến rơi nước mắt, bởi cả 8 cuộn phim chất lượng đều tốt. Ngoài việc dùng kỹ thuật ảnh cho công tác nghiệp vụ, thỉnh thoảng cũng dùng trong sinh hoạt của đơn vị như ngày lễ, tết, đám cưới của anh em… Với ý thức tằn tiện từng kiểu ảnh. Ấy là chưa kể đã dùng tới “máy hà tiện” - một cuộn phim 36 đã chụp được 72 kiểu. Giữa chiến trận ác liệt, đôi uyên ương không áo cưới, không tiệc tùng đình đám, chỉ liên hoan tiệc trà bánh kẹo, nhưng có một tấm ảnh cưới, dẫu chỉ là ảnh trắng đen là hạnh phúc lắm rồi, chẳng ai quan tâm, bình luận về cái khoản nghệ thuật. Đối với chúng tôi, những bức ảnh thời đó, đã trở thành những kỷ niệm sâu sắc trong thế cuộc chinh chiến của mình. Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét